Tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quỵ) là một trong 3 bệnh gây tử vong hàng đầu (tim mạch, ung thư, tai biến mạch máu não). Bệnh thường để lại di chứng nặng nề như tàn phế, yếu liệt, khiếm khuyết một chức năng nào đó trong cơ thể, không thể sinh hoạt một cách bình thường, thậm chí sống đời sống thực vật.

Nguyên nhân dẫn đến tai biến nhiều nhất là do tăng huyết áp, hút thuốc lá, tiểu đường, các bệnh lý về tim (thiếu máu cơ tim), xơ vữa động mạch, nhồi máu não, bệnh mạch máu ngoại biên...Ngoài ra cũng có một số yếu tố khác có thể gây đột quỵ là chứng tăng mỡ máu, lười vận động thể dục, béo phì, nghiện rượu, căng thẳng thần kinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng cao huyết áp thường xuyên với bệnh tai biến mạch máu não.

Bệnh thường gặp ở người cao tuổi, tuy nhiên độ tuổi mắc chứng tai biến mạch máu não ngày càng bị trẻ hóa. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Hiện- Chủ nhiệm Khoa Đột quỵ- bệnh viện Quân y 103, người cao tuổi thường hay bị đông máu, bởi khi tuổi càng cao, hiệu suất sản xuất và chất lượng plasmin suy giảm. Plasmin là enzym duy nhất trong cơ thể có khả năng trực tiếp tiêu hủy sợi fibrin (sợi huyết), gây tan cục máu đông. Điều này dẫn đến có một lượng sợi huyết dư thừa lưu thông trong máu, làm cho nguy cơ hình thành cục máu đông tăng lên, dẫn đến nguy cơ nhồi máu não tăng. Nhồi máu não làm giảm đột ngột hoặc ngưng hoàn toàn việc cung cấp máu đến não. Chính vì vậy, các tế bào thần kinh bị tổn thương, chức năng hoạt động của cơ quan này có thể sẽ bị ngưng trệ trong một thời gian dài và gây ra các di chứng như: liệt, nói ngọng, méo miệng, loét do nằm lâu ...

Tai biến mạch máu não biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau. Thường là đau đầu, choáng váng, chóng mặt, rối loạn tri giác như tiếp xúc chậm chạp, hôn mê. Đột ngột bị á khẩu, không nói được, nói năng lẫn lộn, vô nghĩa, yếu, liệt cơ tay, chân, nôn ói… Thường thì các triệu chứng xuất hiện đột ngột không biết trước, có khi ngay cả trong lúc ngủ.

Hiện nay, để điều trị tai biến mạch máu não, bác sĩ thường dùng một số phương pháp để ổn định huyết áp, chống phù não như: Manitol 20%, tiêm tĩnh mạch chậm trong 5-30 phút, nhắc lại sau mỗi 2-6 giờ (dùng ngay sau 30 phút); Glyxerol 40%, mỗi 4 - 6 giờ, dùng sau khởi phát 8 - 12 giờ, dùng toàn bộ 24 - 48 giờ…Sau đó  tiến hành điều trị đặc hiệu bằng các thuốc chống kết tập tiểu cầu (anti platelet agents), điều trị chống đông (anticoagulant), điều trị tiêu cục huyết (thrombolytic), các yếu tố tăng dinh dưỡng thần kinh….