Theo PGS-TS Đinh Thị Thu Hương (Phó viện trưởng Viện Tim mạch quốc gia Việt Nam), tăng huyết áp (THA) là nguyên nhân chính (chiếm khoảng 80%) gây nên đột quỵ não (ĐQN) hay còn gọi là tai biến mạch máu não. Vậy nguyên nhân khiến bệnh nhân THA dễ bị ĐQN là gì?

Huyết áp là áp lực máu ở trong lòng động mạch, được tạo ra bởi lực co bóp của tim và sức cản của động mạch. Theo Tổ chức Y tế thế giới, THA là khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg hay huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg. THA làm tăng áp lực của dòng máu lên thành mạch, khiến chúng bị giãn dần và tổn thương. THA diễn ra thường xuyên khiến tổn thương ngày càng nặng và có thể dẫn tới mạch máu bị vỡ, đặc biệt ở những mạch máu nhỏ như mạch máu não, gây xuất huyết não. Với các tổn thương ở thành mạch nhỏ, chưa dẫn tới vỡ mạch máu thì hệ thống tiểu cầu và các sợi fibrin sẽ đến sửa chữa vết thương, hình thành cục máu đông. Hơn nữa, tình trạng rối loạn mỡ máu, thừa cholesterol thường gặp ở người bị THA cũng là nguyên nhân khiến thành mạch dày lên, hình thành các mảng xơ vữa và gây tắc mạch máu, dẫn tới nhồi máu não. Như vậy, ĐQN có hai dạng là xuất huyết não và nhồi máu não, đều dễ xảy ra ở bệnh nhân THA.

Khi bị ĐQN, người bệnh thường gặp một số triệu chứng như: đau đầu đột ngột không rõ nguyên nhân, giảm thị lực, liệt nửa người, không nói được,… ĐQN thường diễn ra nhanh và có thể để lại những di chứng nặng nề nếu không được cấp cứu kịp thời như: liệt, hôn mê,… thậm chí là tử vong.

Các chuyên gia y tế cũng lưu ý: nếu giảm huyết áp được 5mmHg thì người bệnh sẽ giảm 10% nguy cơ bị ĐQN. Để phòng ngừa ĐQN, trước hết người bệnh cần thường xuyên kiểm tra huyết áp và điều trị tốt bệnh THA bằng các thuốc như: thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển,… Trong điều trị ĐQN, tùy theo dạng bệnh và mức độ nặng mà bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc phù hợp (thuốc chống đông máu, thuốc tiêu huyết khối,…) kết hợp vật lý trị liệu… Việc dùng các thuốc này cần có sự theo dõi của bác sĩ để phòng tránh những tác dụng phụ, tai biến có thể xảy ra.